Di chúc bị giả chữ ký có bị vô hiệu không?

Tranh chấp quyền thừa kế liên quan đến tính xác thực của di chúc là một trong những dạng tranh chấp dân sự phức tạp. Trong đó, việc một hoặc các bên đương sự nghi ngờ chữ ký trên di chúc bị giả mạo nhằm làm thay đổi ý chí của người để lại di sản diễn ra tương đối phổ biến. Bài viết dưới đây VPLS Dương Công sẽ phân tích cụ thể vấn đề “Di chúc giả chữ ký có bị vô hiệu không?” dựa trên các quy định pháp luật thực hiện hành.

Xem thêm: Di chúc hợp pháp

                  Hỏi đáp nhanh về thừa kế

                  Một số quy định về hình thức của di chúc

  1. Căn cứ pháp lý về điều kiện có hiệu lực của di chúc

Để xác định một bản di chúc bị giả mạo chữ ký có bị vô hiệu hay không, trước hết cần đối chiếu với các điều kiện có hiệu lực của di chúc được quy định tại Điều 630 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015. Cụ thể, một di chúc được coi là hợp pháp khi có đủ các điều kiện sau:

  • Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
  • Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

Đồng thời, Điều 624 BLDS 2015 định nghĩa: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.”

Chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc là hình thức bắt buộc nhằm chứng minh “ý chí tự nguyện” của chủ sở hữu tài sản. Do đó, hành vi giả mạo chữ ký đã trực tiếp triệt tiêu điều kiện cốt lõi này, dẫn đến việc di chúc không phản ánh đúng sự thật và vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật.

  1. Di chúc giả chữ ký bị xử lý vô hiệu như thế nào?

Theo quy định pháp luật, một bản di chúc có chữ ký bị giả mạo không đương nhiên vô hiệu ngay lập tức mà phải thông qua thủ tục tố tụng dân sự để Tòa án nhân dân có thẩm quyền ra phán quyết. Căn cứ vào kết quả thu thập chứng cứ, di chúc có thể bị tuyên vô hiệu theo hai trường hợp:

a) Vô hiệu toàn bộ di chúc

Căn cứ Điều 643 BLDS 2015, di chúc vô hiệu toàn bộ khi thuộc một trong các trường hợp:

  • Người để lại di sản không có quyền định đoạt tài sản.
  • Di chúc được chứng minh là giả mạo hoàn toàn hoặc chữ ký của người lập di chúc trên văn bản hoàn toàn không phải do chính họ thực hiện.

Hậu quả pháp lý: Khi Tòa án tuyên bố di chúc vô hiệu toàn bộ, văn bản này không có giá trị phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm mở thừa kế. Di sản của người chết sẽ được phân chia theo quy định của pháp luật dựa trên các hàng thừa kế quy định tại Điều 651 BLDS 2015 hoặc chia theo một bản di chúc hợp pháp khác (nếu có).

b) Vô hiệu một phần di chúc

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 643 BLDS 2015: “Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực.”

Hậu quả pháp lý: Trường hợp người để lại di sản đã ký vào bản di chúc hợp pháp, nhưng sau đó có cá nhân tự ý sửa đổi, bổ sung nội dung và ký giả tên người lập di chúc vào phần nội dung bổ sung đó, Tòa án sẽ chỉ tuyên vô hiệu phần nội dung có chữ ký giả mạo. Các phần còn lại thể hiện đúng ý chí ban đầu của người lập di chúc vẫn giữ nguyên giá trị pháp lý.

  1. Nghĩa vụ chứng minh và quy trình trưng cầu giám định tại Tòa án

Khi phát sinh tranh chấp thừa kế liên quan đến chữ ký giả, quy trình giải quyết của Tòa án tuân thủ nghiêm ngặt theo các căn cứ của Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTS) 2015:

  • Nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự: Căn cứ Điều 91 BLTTS 2015, đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp. Người khởi kiện cho rằng di chúc giả chữ ký có nghĩa vụ cung cấp các mẫu chữ ký thật của người để lại di sản thực hiện lúc sinh thời để làm mẫu so sánh.
  • Trưng cầu giám định tư pháp: Để có cơ sở khoa học khách quan, Tòa án sẽ ra quyết định trưng cầu giám định theo quy định tại Điều 102 BLTTS 2015. Cơ quan thực hiện giám định (Viện Khoa học hình sự hoặc Phòng Kỹ thuật hình sự Công an cấp tỉnh) sẽ đưa ra kết luận chuyên môn bằng văn bản. Kết luận giám định này là chứng cứ quan trọng giúp Hội đồng xét xử xác định tính hợp pháp của di chúc.
  1. Trách nhiệm pháp lý đối với hành vi giả mạo chữ ký trên di chúc

Hành vi giả mạo chữ ký của người khác nhằm mục đích dịch chuyển quyền sở hữu di sản thừa kế trái pháp luật là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Tùy thuộc vào tính chất và mức độ, người thực hiện có thể phải chịu trách nhiệm:

  • Trách nhiệm dân sự (Tước quyền hưởng di sản): Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 621 BLDS 2015, người có hành vi giả mạo di chúc, sửa đổi di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản sẽ bị kết luận là “Người không được quyền hưởng di sản”.
  • Trách nhiệm hình sự: Nếu hành vi giả mạo chữ ký nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017) hoặc “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” (Điều 341 Bộ luật Hình sự).

Khuyến nghị: Việc xác định hiệu lực của di chúc có dấu hiệu giả mạo đòi hỏi quy trình thu thập, đánh giá chứng cứ kỹ lưỡng và tuân thủ chặt chẽ thời hiệu khởi kiện về thừa kế. Đương sự nên tham vấn ý kiến từ các luật sư hoặc chuyên gia pháp lý để thực hiện đúng trình tự tố tụng theo quy định.

Lưu ý: Các thông tin, nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 0867.678.066 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác.

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ DƯƠNG CÔNG
Văn phòng: Số 10 ngõ 40 Trần Vỹ, phường Phú Diễn, TP Hà Nội
Số điện thoại: 0867.678.066
Email: vanphongluatsuduongcong@gmail.com
Facebook: Hỗ trợ pháp lý
Tikok: Lscchannel

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *