Hành nghề kiến trúc là hoạt động chuyên môn có vai trò quan trọng trong quá trình lập quy hoạch, thiết kế và xây dựng công trình, đồng thời có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng không gian kiến trúc và an toàn của công trình. Do tính chất đặc thù của hoạt động này, pháp luật đặt ra các yêu cầu cụ thể đối với cá nhân, tổ chức hành nghề kiến trúc nhằm bảo đảm năng lực chuyên môn, trách nhiệm nghề nghiệp và chất lượng dịch vụ kiến trúc.

1. Quy định về dịch vụ kiến trúc
Theo quy định tại Điều 19 Luật Kiến trúc 2019, dịch vụ kiến trúc là loại hình kinh doanh dịch vụ tổ chức thiết kế, thẩm tra thiết kế xây dựng. Dịch vụ kiến trúc bao gồm:
- Thiết kế kiến trúc công trình
- Thiết kế kiến trúc trong đồ án quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn, thiết kế đô thị
- Thiết kế kiến trúc cảnh quan
- Thiết kế nội thất
- Chỉ dẫn đặc điểm kỹ thuật kiến trúc công trình
- Đánh giá kiến trúc công trình
- Thẩm tra thiết kế kiến trúc
2. Quy định về điều kiện hành nghề kiến trúc
- Theo quy định, cá nhân đảm nhận chức danh chủ trì thiết kế kiến trúc, cá nhân chịu trách nhiệm chuyên môn về kiến trúc trong tổ chức hành nghề kiến trúc, kiến trúc sư hành nghề với tư cách cá nhân phải có chứng chỉ hành nghề kiến trúc, trừ trường hợp hành nghề kiến trúc của người nước ngoài tại Việt Nam
- Đối với cá nhân không có chứng chỉ hành nghề kiến trúc được tham gia thực hiện dịch vụ kiến trúc trong tổ chức hành nghề kiến trúc hoặc hợp tác với kiến trúc sư hành nghề với tư cách cá nhân.
- Tổ chức hành nghề kiến trúc phải đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 33 Luật Kiến trúc 2019.
2.1. Quy định về hành nghề kiến trúc với tư cách cá nhân
Theo đó, kiến trúc sư hành nghề với tư cách cá nhân là kiến trúc sư có chứng chỉ hành nghề kiến trúc không thuộc tổ chức hành nghề kiến trúc, nhân danh cá nhân mình thực hiện các dịch vụ kiến trúc. Kiến trúc sư hành nghề với tư cách cá nhân thực hiện dịch vụ kiến trúc theo hợp đồng đã giao kết với tổ chức, cá nhân theo quy định của Luật Kiến trúc 2019 và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Về điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề kiến trúc quy định tại Khoản 1 Điều 28 Luật Kiến trúc như sau:
- Có trình độ từ đại học trở lên về lĩnh vực kiến trúc
- Có kinh nghiệm tham gia thực hiện dịch vụ kiến trúc tối thiểu là 03 năm tại tổ chức hành nghề kiến trúc hoặc hợp tác với kiến trúc sư hành nghề với tư cách cá nhân (lưu ý, cá nhân đạt giải thưởng kiến trúc quốc gia hoặc giải thưởng quốc tế về kiến trúc được miễn điều kiện này)
- Đạt yêu cầu sát hạch cấp chứng chỉ hành nghề kiến trúc (lưu ý, cá nhân có thời gian liên tục từ 10 năm trở lên trực tiếp tham gia quản lý nhà nước về kiến trúc, đào tạo trình độ đại học trở lên về lĩnh vực kiến trúc, hành nghề kiến trúc được miễn điều kiện này).
2.2. Quy định về hành nghề kiến trúc của tổ chức
Điều kiện hoạt động của tổ chức hành nghề kiến trúc được quy định tại Điều 33 Luật Kiến trúc 2019 như sau:
- Được thành lập theo quy định của pháp luật
- Có cá nhân chịu trách nhiệm chuyên môn về kiến trúc hoặc chủ trì thiết kế kiến trúc có chứng chỉ hành nghề kiến trúc;
- Thông báo thông tin quy định tại điểm a và điểm b khoản này cho cơ quan chuyên môn về kiến trúc thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi tổ chức hành nghề kiến trúc có trụ sở hoạt động.
Ngoài ra, tổ chức hành nghề kiến trúc gồm văn phòng kiến trúc sư, tổ chức sự nghiệp, doanh nghiệp khác được tổ chức, hoạt động theo quy định của Luật Kiến trúc, Luật Doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan. Về văn phòng kiến trúc sư do kiến trúc sư có chứng chỉ hành nghề kiến trúc thành lập và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp.
2.3. Quy định về hành nghề kiến trúc của người nước ngoài tại Việt Nam
Theo quy định hiện hành, người nước ngoài được hành nghề kiến trúc tại Việt Nam khi đáp ứng các điều kiện sau đây:
- Có chứng chỉ hành nghề kiến trúc tại Việt Nam hoặc có chứng chỉ hành nghề kiến trúc đang có hiệu lực do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp và được Việt Nam công nhận, chuyển đổi;
- Tuân thủ pháp luật Việt Nam và Quy tắc ứng xử nghề nghiệp của kiến trúc sư hành nghề của Việt Nam.
Về việc công nhận, chuyển đổi chứng chỉ hành nghề kiến trúc được quy định như sau:
- Người nước ngoài đã có chứng chỉ hành nghề kiến trúc đang có hiệu lực do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp, tham gia dịch vụ kiến trúc ở Việt Nam dưới 06 tháng thì thực hiện thủ tục công nhận chứng chỉ hành nghề kiến trúc, từ 06 tháng trở lên thì thực hiện thủ tục chuyển đổi chứng chỉ hành nghề kiến trúc tại cơ quan chuyên môn về kiến trúc thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
- Việc công nhận, chuyển đổi chứng chỉ hành nghề kiến trúc giữa Việt Nam với các quốc gia, vùng lãnh thổ được thực hiện theo quy định của thỏa thuận quốc tế hoặc điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Xem thêm: Một số quy định về gia hạn giấy phép xây dựng
Quy định chung về cấp giấy phép xây dựng
Đề nghị cấp giấy phép xây dựng đối với nhà ở riêng lẻ
Lưu ý: Các thông tin, nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 0867.678.066 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác.
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ DƯƠNG CÔNG
Văn phòng: Số 10 ngõ 40 Trần Vỹ, phường Phú Diễn, TP Hà Nội
Số điện thoại: 0867.678.066
Email: vanphongluatsuduongcong@gmail.com
Facebook: Hỗ trợ pháp lý
Tikok: Lscchannel
