Việc thực thi quyền hành chính của Chính phủ và chính quyền địa phương luôn tiềm ẩn nguy cơ phát sinh các hành vi tham nhũng. Trong bài viết này, tác giả đề cập đến vấn đề kiểm soát quyền hành chính thông qua hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và hoạt động tài phán hành chính – hai phương thức cơ bản có ý nghĩa quan trọng đối với việc phòng, chống tham nhũng, đánh giá thực trạng và đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện.
Kiểm soát quyền hành chính nhằm phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam
TS. Trần Thị Thu Hà (Khoa Luật Hành chính _ Nhà nước, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh)
Quyền hành chính là một bộ phận của quyền hành pháp, là “quyền lực trong hành động nhằm thực hiện quyền hành pháp”[1]. Nó thực chất là quyền tổ chức quản lý, điều hành các quá trình xã hội và các hành vi, hoạt động của cá nhân, tổ chức, thông qua việc chủ thể có thẩm quyền ban hành các quyết định hành chính và thực hiện các hành vi hành chính nhất định. Quyền hành chính đương nhiên được đảm trách chủ yếu bởi các cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước, đứng đầu là Chính phủ. Tuy nhiên, với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, Chính phủ về cơ bản chỉ điều hành vĩ mô, sự điều hành vi mô, cụ thể thường thuộc về các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
Việc thực thi quyền hành chính luôn tiềm ẩn nguy cơ phát sinh các hành vi tham nhũng, với đa dạng các hình thức, kiểu loại, mức độ khác nhau. Bởi trước hết, đây là hoạt động sử dụng quyền lực nhà nước một cách thường xuyên, liên tục nhằm phục vụ lợi ích công, trên nền tảng của sự bất bình đẳng, với đặc trưng áp đặt ý chí và mệnh lệnh đơn phương từ phía chủ thể công quyền. Bên cạnh đó, quyền lực hành chính có thể tác động trực tiếp đến lợi ích của các tổ chức, cá nhân trong xã hội, có thể làm phát sinh quyền và nghĩa vụ cụ thể của các chủ thể nhất định. Đồng thời, đây cũng là quá trình tiêu tốn nhiều nguồn lực công (bao gồm cả nhân lực, vật lực và tài lực). Hơn nữa, một trong những đặc điểm quan trọng của quyền hành chính, thậm chí còn được xem như là “đặc quyền” của hoạt động hành chính[2], chính là tính chủ động, sáng tạo, mức độ tuỳ nghi cao. Vì vậy, nếu không được kiểm soát, giám sát chặt chẽ, các chủ thể thực thi quyền hành chính sẽ khó kiềm chế lòng tham, từ đó tìm cách tận dụng, lợi dụng những ưu thế, ảnh hưởng có được từ chức vụ, quyền hạn của mình để vụ lợi.
1. Kiểm soát quyền hành chính thông qua hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo
Đây là phương thức kiểm soát mang tính nội bộ, mà thực chất là “sự tự kiểm soát” trong khuôn khổ hành chính nhà nước. Trong đó, thanh tra là “hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan thực hiện chức năng thanh tra đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân” theo kế hoạch hoặc đột xuất nhằm “phát hiện hạn chế, bất cập trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền có giải pháp, biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”[3]. Còn giải quyết khiếu nại, tố cáo là hoạt động của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức có thẩm quyền trong việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết đối với các khiếu nại về quyết định hành chính, hành vi hành chính cụ thể[4] hoặc đối với các tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ và hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực[5].
Thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo là một trong những chức năng quan trọng của quản lý nhà nước và là công đoạn không thể thiếu trong hoạt động hành chính nhà nước. Nhìn từ góc độ kiểm soát quyền lực nhà nước, đây là phương thức có nhiều ưu điểm nổi bật, trong đó đáng nhấn mạnh là tính chủ động, tính thường xuyên, khả năng tự phát hiện kịp thời các hạn chế, bất cập của chính sách, pháp luật cũng như các biểu hiện vi phạm trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật, khả năng tự xử lý, tự điều chỉnh của các chủ thể quản lý nhà nước nhằm bảo đảm trật tự, kỷ cương, phòng ngừa, ngăn chặn sớm các hành vi lạm quyền, vi quyền, tham nhũng. Tuy nhiên, trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo đều cho thấy đây chưa phải là phương thức kiểm soát quyền hành chính hữu hiệu nhất. Điều này bắt nguồn từ những nguyên nhân cơ bản sau:
Một là, Luật Thanh tra năm 2022 đã có sự điều chỉnh thẩm quyền ban hành quyết định thanh tra sang thủ trưởng cơ quan thanh tra (thay vì cả thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước và thủ trưởng cơ quan thanh tra như trước đây). Tuy nhiên, nhìn chung pháp luật thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay vẫn chưa phân định rạch ròi giữa hoạt động quản lý điều hành với hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước[6]. Suy cho cùng, hoạt động thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo vẫn là hoạt động hành chính nhà nước, trong khuôn khổ của hành chính nhà nước. Vậy nên, chất lượng và hiệu quả kiểm soát của phương thức này bị chi phối bởi chính yếu tố nội bộ và quy trình khép kín của nó. Hệ quả là, mặc dù hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện thường xuyên, bài bản, theo đúng quy trình, thủ tục luật định nhưng vẫn bỏ sót nhiều vụ việc tham nhũng lớn của các chủ thể vi phạm là quan chức cấp cao trong bộ máy hành chính nhà nước. Tình trạng e ngại, nể nang, hữu khuynh, né tránh, cấp trên có biểu hiện thiên vị, bao che, dung túng cho cấp dưới… vẫn còn tồn tại một cách đáng tiếc[7].
Hai là, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo là hoạt động nhạy cảm, phức tạp, đầy cám dỗ, người thực hiện nó ý thức được vị thế, quyền lực và tầm ảnh hưởng của mình từ nhiệm vụ được giao, vì vậy có nhiều cơ hội và khả năng để tư lợi. Nói cách khác, nếu không được kiểm soát tốt, đây chính là không gian lý tưởng để giữa chủ thể tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và đối tượng bị thanh tra, khiếu nại, tố cáo có các “giao dịch ngầm” hay các thỏa thuận bất hợp pháp. Chẳng hạn, người có thẩm quyền có thể thực hiện một loạt hành vi tham nhũng như: nhận hối lộ; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi; nhũng nhiễu vì vụ lợi; không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi, cản trở can thiệp trái pháp luật vào hoạt động thanh tra, kiểm tra[8]… Từ thực tiễn xử lý các vụ đại án thời gian qua, trước việc hàng loạt các cán bộ, công chức hoạt động trong lĩnh vực thanh tra bị khởi tố hình sự, có thể thấy nếu không được kiểm soát chặt chẽ, tham nhũng có thể dễ dàng xảy ra trong chính cơ quan làm nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng[9], và thanh tra – công cụ kiểm soát thường xuyên đối với việc thực thi quyền hành chính sẽ bị vô hiệu hóa.
Ba là, phương thức kiểm soát quyền hành chính thông qua hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo bị hạn chế về phạm vi. Cụ thể, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ không phải là đối tượng thanh tra, quyết định hành chính và hành vi hành chính của Thủ tướng Chính phủ không phải là đối tượng của quyền khiếu nại. Ngược lại, theo quy định tại Điều 24 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Chính phủ là chủ thể thống nhất quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo. Từ đây có thể thấy phương thức kiểm soát nội bộ hầu như không thể tác động đến hoạt động của Chính phủ – cơ quan hành chính nhà nước cao nhất và Thủ tướng Chính phủ – người đứng đầu Chính phủ, đứng đầu hệ thống hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, trong việc kiểm soát quyền hành chính cần nhiều giải pháp khác nhau, nhưng trước hết nên hướng đến một số vấn đề chủ yếu sau:
Thứ nhất, bảo đảm tính công khai, minh bạch của hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Mặc dù là phương thức kiểm soát nội bộ nhưng không vì thế mà duy trì một quy trình mang tính khép kín. Vì càng khép kín càng dễ nảy sinh các tiêu cực. Hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo cần phải được thực hiện theo trình tự, thủ tục đơn giản, tường minh, bảo đảm sự nhanh chóng, kịp thời, tạo điều kiện cho đối tượng thanh tra và người bị khiếu nại, tố cáo giải trình một cách dân chủ, khuyến khích cơ chế đối thoại, tranh luận. Thậm chí, đối với những vụ việc phức tạp, trước khi ra quyết định giải quyết, nếu thấy cần thiết, người giải quyết có thể thành lập hội đồng tư vấn để tham khảo ý kiến[10].
Thứ hai, cần phải đổi mới nội dung và phương thức thanh tra. Về nội dung, trước hết thanh tra cần tập trung vào các yếu tố nội dung của cơ chế quản lý, vào các sơ hở, thiếu sót trong hoạt động hành chính nhà nước, trong mối quan hệ giữa các Bộ, giữa cơ quan quản lý chuyên ngành cấp trên với các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, giữa cơ quan hành chính nhà nước với các doanh nghiệp thuộc đối tượng quản lý, giữa trung ương và địa phương trong các hoạt động cấp phát ngân sách, xin – cho cơ chế, xây dựng cơ bản, phân bổ dự án đầu tư…, với mục đích phòng ngừa và ngăn chặn các hành vi tham nhũng, tiêu cực. Về phương thức, cần chuyển từ phương thức “tiền kiểm” sang phương thức “hậu kiểm”. Không nên tiến hành thanh tra tràn lan cũng như can thiệp quá sâu vào các công việc sự vụ cụ thể của đơn vị là đối tượng thanh tra. Ngược lại, cần đề cao trách nhiệm tự thanh tra, kiểm tra của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp[11].
Thứ ba, cần tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng trong đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Mới đây, vào ngày 27/10/2023, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 131-QĐ/TW về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán. Trong đó, xác định khá cụ thể các hành vi vi phạm; trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu, thành viên cấp ủy, tổ chức đảng; trách nhiệm của lãnh đạo, người đứng đầu cơ quan, tổ chức kiểm tra, thanh tra, kiểm toán và cá nhân có liên quan; các hình thức xử lý đối với hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực của người trực tiếp vi phạm và hình thức xử lý trách nhiệm đối với cấp ủy, tổ chức đảng và lãnh đạo cấp ủy, tổ chức Đảng khi để xảy ra tiêu cực, tham nhũng. Theo tác giả, những quy định nói trên rất cần thiết, thể hiện quan điểm cứng rắn và quyết tâm mạnh mẽ của Đảng ta trong công cuộc phòng, chống tham nhũng. Tuy nhiên, đây mới chỉ là các quy định của Đảng, cần phải được thể chế hóa kịp thời thành pháp luật trên tinh thần đồng bộ hóa, bảo đảm sự tương thích giữa kỷ luật đảng và kỷ luật nhà nước. Và quan trọng hơn, cần phải tổ chức thực thi những quy định đó một cách nghiêm túc, thực chất, dưới sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ của các lực lượng chức năng, khắc phục tính hình thức và sự kém hiệu quả vốn được xem như là một nhược điểm cố hữu trong quá trình vận hành cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta từ trước đến nay.
Thứ tư, nên mở rộng phạm vi các quyết định hành chính, hành vi hành chính cá nhân, tổ chức được quyền khiếu nại, bao gồm trong đó cả quyết định hành chính và hành vi hành chính của Thủ tướng Chính phủ. Đây là vấn đề lớn, liên quan đến nhiều vấn đề lớn khác, bởi việc xác định thẩm quyền giải quyết khiếu nại, trình tự thủ tục giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của người đứng đầu Chính phủ, đứng đầu toàn thể hệ thống hành chính nhà nước là điều không đơn giản. Nhưng thiết nghĩ, trong xu thế mở rộng dân chủ hiện nay, việc đặt các quyết định hành chính, hành vi hành chính của Thủ tướng Chính phủ trong cơ chế kiểm soát hành chính là hữu ích. Và suy cho cùng, việc giải quyết khiếu nại hành chính cũng không hoàn toàn là câu chuyện nội bộ, bởi người khiếu nại là các cá nhân, tổ chức trong xã hội. Cho phép quyền khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Thủ tướng Chính phủ chính là đặt người đứng đầu nền hành chính nhà nước trong sự giám sát của nhân dân.
2. Kiểm soát quyền hành chính thông qua hoạt động tài phán hành chính
Tài phán hành chính thực ra là cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước của nhánh tư pháp đối với hành pháp nói chung và hành chính nhà nước nói riêng. Đây là cơ chế khách quan để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân trước sự xâm hại của các chủ thể thực thi công quyền, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc kịp thời sửa chữa những quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật, khắc phục các hậu quả của chúng đối với xã hội. Thông qua cơ chế này, Tòa hành chính đưa ra phán quyết về tính hợp pháp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu kiện. Nếu quyết định hành chính được xác định là bất hợp pháp thì các chủ thể có liên quan phải tiến hành sửa đổi, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ, trong trường hợp gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Kiểm soát quyền hành chính thông qua hoạt động giải quyết tranh chấp hành chính bằng con đường Tòa án là điều cần thiết. Ưu điểm nổi bật của phương thức này là tính độc lập, khách quan – điều mà phương thức kiểm soát nội bộ không dễ có. Đây cũng chính là yếu tố buộc các cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước phải e ngại, dè chừng. Vì với cơ chế xét xử công khai và quy trình tố tụng chặt chẽ, tình trạng “đóng cửa bảo nhau”, “giơ cao đánh khẽ”, cấp trên dung túng, bao che cho cấp dưới… sẽ được hạn chế một cách căn bản.
Kể từ năm 1996[12] đến nay, phương thức giải quyết tranh chấp hành chính bằng con đường tài phán đã có sự phát triển đáng ghi nhận, cùng với sự ra đời và dần lớn mạnh của Tòa hành chính các cấp. Tuy nhiên, nhìn chung, đây vẫn chưa phải là sự lựa chọn chủ yếu, phổ biến của các cá nhân, tổ chức trong xã hội. Điều này xuất phát từ nhiều lý do khác nhau. Từ góc độ kiểm soát quyền lực nhà nước, có thể rút ra một số nhận xét sau đây:
Một là, sự kiểm soát của tư pháp đối với việc thực thi quyền hành chính của Chính phủ và chính quyền địa phương còn khá thụ động. Ở nước ta hiện nay, sự kiểm tra của Tòa hành chính đối với tính hợp pháp của các quyết định hành chính và hành vi hành chính chỉ được thực hiện khi có khiếu kiện của người dân. Trong khi đó, không ít người dân còn “thiếu niềm tin” đối với phương thức giải quyết tranh chấp hành chính thông qua Tòa án do hiểu biết về pháp luật tố tụng còn hạn chế và tâm lý e ngại “con kiến mà kiện củ khoai” khi khởi kiện các quyết định hành chính, hành vi hành chính của các chủ thể công quyền.
Hai là, phạm vi kiểm soát quyền lực của tư pháp đối với hoạt động hành chính nhà nước còn khá hẹp. Ở Trung ương, Tòa án nhân dân tối cao không thực hiện việc kiểm soát đối với các quyết định hành chính cá biệt và các hành vi hành chính của Thủ tướng Chính phủ. Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) tuy không trực tiếp khẳng định nhưng thông qua việc liệt kê các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện (Điều 31) và Tòa án cấp tỉnh (Điều 32) đã loại trừ các khiếu kiện đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính của Thủ tướng Chính phủ trong phạm vi xét xử của Tòa án nhân dân. Và do vậy, Tòa án nhân dân tối cao đương nhiên sẽ không thực thi việc “giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của các Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của luật”[13] về các quyết định hành chính cá biệt, các hành vi hành chính của Thủ tướng Chính phủ. Những quy định nói trên rõ ràng đã đặt hoạt động thực thi quyền lực nhà nước của Thủ tướng Chính phủ ra ngoài tầm với của tài phán hành chính, vô hình trung tạo ra “vùng cấm” khiến cho vai trò kiểm soát hành pháp của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp nói chung và Tòa án nhân dân tối cao nói riêng trở nên mờ nhạt[14].
Ba là, tính độc lập của cơ quan thực hiện quyền tư pháp đối với cơ quan hành chính nhà nước. Ví dụ: vụ án “nữ sinh giao gà” tại tỉnh Điện Biên, theo Công văn 1413/VPCP-NC ngày 20/2/2019 của Văn phòng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ “yêu cầu Bộ Công an, đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao chỉ đạo các cơ quan tiến hành tố tụng tại tỉnh Điện Biên khẩn trương tiến hành, điều tra, truy tố và sớm đưa các đối tượng phạm tội ra xét xử, áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhất theo quy định của pháp luật để trừng trị loại tội phạm dã man, đặc biệt nghiêm trọng này”. Phản ứng nhanh chóng của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cao nhất trong tình huống này là rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, có thể thấy, yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ chứa đựng cả định hướng xử lý vụ việc, mang âm hưởng của một mệnh lệnh hành chính và vô hình trung làm ảnh hưởng đến tính độc lập của cơ quan tư pháp.
Ngược lại, liên quan đến việc kiểm soát của cơ quan thực hiện quyền tư pháp đối với cơ quan thực hiện quyền hành pháp, trong các báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân tối cao, không một thống kê nào cho thấy Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét lại tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành; càng không có thông tin về việc Tòa án đã quyết định áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn trong trường hợp Thủ tướng Chính phủ im lặng trước đề nghị của người đứng đầu cơ quan xét xử cao nhất. Nói cách khác, trong khi thực hiện nguyên tắc xét xử độc lập, Tòa án hầu như không “đụng chạm” đến các quyết định của Thủ tướng, cho dù đó là quyết định có chứa quy phạm pháp luật hay quyết định cá biệt…
Bốn là, các chế tài kiểm soát quyền lực nhà nước của tư pháp đối với hành chính thông qua tài phán hành chính chưa đủ mạnh mẽ. Khi giải quyết các khiếu kiện hành chính, Tòa án chủ yếu chỉ phán xét tính hợp pháp của quyết định hành chính và hành vi hành chính mà không thể áp đặt, chỉ định một phương thức xử sự cụ thể cho cơ quan hành chính, người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan hành chính. Liệu các quyết định hành chính sai trái có bị hủy bỏ, quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện có được khôi phục hay không lại phụ thuộc hoàn toàn vào cơ quan hành chính. Đó là chưa kể giữa cơ quan thi hành án và cơ quan hành chính – đối tượng thi hành án lại khó có sự độc lập với nhau, vì vậy các phán quyết của Tòa hành chính trong nhiều trường hợp chưa được thực thi nghiêm túc[15].
Để tài phán hành chính thực sự trở thành một phương thức kiểm soát quyền hành chính mạnh mẽ và hiệu quả, theo tác giả, cần giải quyết tốt những vấn đề sau:
Thứ nhất, luôn luôn đề cao sự độc lập của tư pháp. Vì chỉ khi quyền tư pháp giữ được sự độc lập thì công lý mới thực sự được bảo đảm. Muốn vậy, cần phải tích cực thúc đẩy chủ trương cải cách hệ thống Tòa án theo cấp xét xử, không nên duy trì việc tổ chức Tòa án theo đơn vị hành chính lãnh thổ như hiện nay. Đó chính là tiền đề cần thiết để thực thi chế độ giám sát tư pháp của Tòa hành chính. Một khi Tòa hành chính được tổ chức độc lập với các cơ quan thuộc chính quyền địa phương thì sự giám sát tư pháp mới hiện hữu một cách thực chất. Bên cạnh đó, để bảo đảm tính độc lập của thẩm phán trong xét xử, nên thực hiện chế độ bổ nhiệm thẩm phán suốt đời, thay vì bổ nhiệm theo nhiệm kỳ và lấy số lượng án bị hủy, bị xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm làm một trong những căn cứ để bổ nhiệm lại.
Thứ hai, cần mở rộng phạm vi kiểm soát quyền lực của tư pháp đối với việc thực thi quyền hành chính. Luật Tố tụng hành chính nên chính thức thừa nhận quyền được khởi kiện của cá nhân, tổ chức đối với các quyết định hành chính cá biệt và các hành vi hành chính của Thủ tướng Chính phủ. Đây có thể là ý tưởng táo bạo trong bối cảnh các điều kiện bảo đảm cho sự mở rộng này trong thực tế chưa được chuẩn bị kỹ càng. Nhưng theo tác giả, nếu đặt các quyết định hành chính, hành vi hành chính của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cao nhất trong sự kiểm soát tư pháp, tự khắc tính răn đe của phương thức kiểm soát này đã trở nên mạnh mẽ hơn. Khi đó, câu hỏi về “vùng cấm quyền lực” phần nào sẽ được hóa giải trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mà không hề đi ngược lại với nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp ở Việt Nam hiện nay.
Thứ ba, cần tăng tính chủ động trong kiểm soát quyền lực nhà nước của tư pháp đối với việc thực thi quyền hành chính nói riêng và quyền hành pháp nói chung. Tác giả đồng ý với quan điểm cho rằng: “cần thừa nhận cả quyền tài phán trừu tượng lẫn tài phán cụ thể của Tòa hành chính”[16]. Trong đó, chấp nhận tài phán trừu tượng nghĩa là cho phép bất cứ công dân, tổ chức nào phát hiện có một văn bản của cơ quan hành chính nhà nước có dấu hiệu bất hợp hiến, bất hợp pháp đều có quyền khởi kiện ra Tòa hành chính, yêu cầu Tòa hành chính kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp của nó. Còn tài phán cụ thể có nghĩa là cá nhân, tổ chức trong một vụ việc liên quan đến cơ quan hành chính nếu nhận thấy văn bản mà cơ quan hành chính dự định áp dụng đối với trường hợp của mình có dấu hiệu bất hợp hiến, bất hợp pháp thì có quyền yêu cầu dừng việc áp dụng văn bản đó và yêu cầu Tòa hành chính kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp của nó[17]. Tuy nhiên, trong bối cảnh năng lực thực tế của Tòa hành chính và đội ngũ thẩm phán chuyên xét xử các vụ án hành chính còn có hạn chế, đây là kiến nghị cần được cân nhắc thêm.
Như vậy, nếu các cơ quan hành chính nhà nước thúc đẩy hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khắc phục những hạn chế cố hữu từ tính nội bộ, khép kín của nó; và nếu Tòa hành chính các cấp thực hiện tốt sứ mệnh, chức năng của mình thông qua hoạt động tài phán hành chính, chắc chắn việc thực thi quyền hành chính của Chính phủ và các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương sẽ được kiểm soát một cách hiệu quả, góp phần hạn chế, đẩy lùi tình trạng tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.
[1] Phạm Hồng Thái, Sự liên tục của hành pháp và quyền lực hành chính, http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/20339, truy cập ngày 19/12/2023.
(Nguồn tin: Bài viết đăng tải trên ấn phẩm Nghiên cứu lập pháp số 14(493), tháng 7/2024)
Đọc thêm: (đang cập nhật)
Lưu ý: Các nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 0867.678.066 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác.
Khách hàng cần tư vấn chi tiết mời liên hệ:
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ DƯƠNG CÔNG
Văn phòng: Số 10 ngõ 40 Trần Vỹ, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, Hà Nội
Số điện thoại: 0867.678.066
Email: vanphongluatsuduongcong@gmail.com
Tiktok: tiktok.com/@lscchannel