Tuyển tập các bản án về tội vu khống người khác

Trong cuộc sống hiện nay, việc bị nói xấu, bịa đặt sau lưng xảy ra rất nhiều. Việc vu khống người khác đem lại nhiều hậu quả rất nặng nề như: gây tổn hại về danh dự, nhân phẩm cũng như lợi ích của người bị vu khống. Trong bài viết này, VPLS Dương Công sẽ gửi đến bạn đọc một số bản án liên quan đến tội vu khống.

(LSC) Tuyển tập các bản án về tội vu khống người khác

Bản án số 32/2022/HS-ST

– Cấp xét xử: Sơ thẩm

– Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế

– Trích dẫn nội dung: “Ông D và P có nộp hồ sơ xin làm cộng tác viên của văn phòng Báo Pháp Luật Việt Nam. D được tuyển vào Văn phòng làm, còn P không được tuyển dụng nên bực tức, thù ghét và tìm mọi cách để bôi nhọ và hạ uy tín của Báo pháp luật Việt Nam. Phan Văn P đã mạo danh ông Nguyễn Quang T(Trưởng văn phòng đại diện Báo PLVN) để gửi thư đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh và Giám đốc công an tỉnh của ba tỉnh Quảng B, Quảng T và Thừa Thiên H. Trong bì thư chứa các công văn được cho là của Báo Pháp luật Việt Nam ban hành và những văn bản mạo danh các cộng tác viên Trương Quốc T1, ông Trương Công N có nội dung như sau:  “Chúng tôi là nhóm phóng viên tác nghiệp tinh nhuệ mọi động tĩnh chi các đồng chí, chúng tôi đều biết như hối lộ các doanh nghiệp, bảo kê doanh nghiệp….” nhằm bôi nhọ đến uy tín của Văn phòng đại diện Báo Pháp luật Việt Nam tại Thừa Thiên H và của cá nhân các ông Nguyễn Quang T, Trương Quốc T1, Trương Công N.”

Bản án số 21/2021/HS-ST

– Cấp xét xử: Sơ thẩm

– Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị

– Trích dẫn nội dung: “Chiều ngày 19/01/2021, Trịnh Thế C thuê in ảnh của chị Nguyễn Thị L (C và L trước đã có quan hệ tình cảm sau đó chia tay), trên khổ giấy A4 kèm theo nội dung: “Con này là Nguyễn Thị L loạn luân với em chồng Lê V đang làm việc tại Công ty Mạnh T. Cứ một tuần là Lê V (em trai của Lê V) khoảng 9 đến 10 giờ là lái xe lên chở đi tỉnh Q để quan hệ tình dục. Bên cạnh đó còn quan hệ với người yêu cũ tên V và nhiều người khác. Riêng V và V chuyển tiền vào tài khoản cho L, còn quan hệ nhiều người nữa. Vậy tôi thông báo ai đã quan hệ tình dục với con này nên đi xét nghiệm bệnh xã hội. Số điện thoại: 0943513xxx (Anh Cty Mạnh T)”. C mang các tờ giấy in được đem rải dọc tuyến đường ở khu vực chợ B, tỉnh Q và trước cổng nhà chị L rồi trở về nhà ngủ. Sau đó chị L và anh V phát hiện sự việc nên làm đơn trình báo Công an. Đồng thời do C thấy anh V nhiều lần đến nơi làm việc chở L về nên C nghĩ giữa anh V và chị L có quan hệ tình cảm nên tức giận và nảy sinh ý định in các tờ rơi có nội dung như trên để nhằm xúc phạm danh dự, uy tín, bôi nhọ chị L, anh V và để cho vợ tin tưởng là C đã chia tay chị L toàn bộ nội dung trên các tờ rơi là do C bịa đặt, vu khống chị L và anh V chứ hoàn toàn không có thật. Do tờ rơi C rải ở khu vực chợ nên nhiều người biết, ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của chị L và anh V.”

Bản án 981/2020/HS-PT ngày 21/12/2020 

– Cấp xét xử: Phúc thẩm

– Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội

– Trích dẫn nội dung: “N.N.H và chị N.T.H kết hôn với nhau giữa năm 2017, đến ngày năm 2019 thì ly hôn. Sau khi ly hôn, do có một số mâu thuẫn trong quá trình chung sống, N.N.H nảy sinh ý định lập một tài khoản Facebook giả mạo chị N.T.H nhằm mục đích đăng bài gây ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm chị H. Ngày 16/11/2019, N.N.H sử dụng điện thoại của mình, sử dụng số điện thoại 0929.838.xxx lập một tài khoản Facebook mang tên “N.T.H”. Sau đó H1 sử dụng thông tin cá nhân của chị H và tải một số hình ảnh của chị H đang sử dụng trên Facebook mang tên “Huyen Ngo” rồi đăng lên trang facebook “N.T.H” để mọi người tin rằng chị H là người sử dụng facebook “ N.T.H”. Sau đó H1 tìm một số hình ảnh người phụ nữ khiêu dâm có đặc điểm giống chị H trên mạng internet, rồi đăng lên facebook “N.T.H” kèm một số bài viểt với nội dung thể hiện chị H là gái bán dâm, nhận đi khách qua đêm, trong đó có số điện thoại 0397587xxx…. Đến tháng 02/2020, chị N.T.A.D là bạn của chị H phát hiện tài khoản facebook “N.T.H” có nội dung bán dâm nên đã báo cho chị H. Chị H vào xem các hình ảnh và bài đăng trên tài khoản facebook “N.T.H” thấy bị xúc phạm, ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, nên ngày 03/02/2020 chị N.T.Hđã trình báo tại Công an để tiến hành điều tra xác minh.”

Bản án 62/2021/HS-ST ngày 12/05/2021 

– Cấp xét xử: Sơ thẩm

– Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên

– Trích dẫn nội dung: “Do bực tức ông Phạm Ngọc H là chấp hành viên giữ chức vụ Trưởng chi cục THADS huyện MA là người đã thi hành Quyết định cưỡng chế nhà đất của bố mẹ bị cáo là ông Vũ Thế H và bà Trịnh Thị H tại huyện MA. Ngày 17/11/2020, Vũ Vương H gửi đơn tố giác ông Phạm Ngọc H chiếm đoạt số tài sản đến Viện kiểm sát nhân dân huyện MA và đơn tố cáo đến một số cá nhân cơ quan huyện MA và huyện TG, Vũ Vương H tố cáo ông H gồm 03 nội dung chính: Một là, Bị cáo Vũ Vương H tố cáo ông Phạm Ngọc H đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý thực hiện việc cưỡng chế thi hành án dân sự. Quá trình cưỡng chế đã cất giữ tài sản không đúng nơi quy định làm thất thoát, chiếm đoạt tài sản của gia đình ông H gồm: 02 lắc bạc, 02 dây truyền bạc, số tiền 750.000.000đ, 100 cây vàng loại 9999 và một số tài sản khác, tổng giá trị là 6.371.930.000đ. Hai là: Bị cáo H tố cáo ông H tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự đối với thửa đất và tài sản trên đất tại huyện MA, tỉnh Điện Biên của gia đình bà Trịnh Thị H (mẹ ông H) trái quy định của pháp luật... Quá trình điều tra, xác minh cả ba nội dung tố giác, tố cáo nêu trên đều sai sự thật, về nội dung tố cáo ông H chiếm đoạt tài sản của gia đình là nội dung Vũ Vương H bịa đặt, vu khống ông Phạm Ngọc H, được giải quyết tại kết luận số 01/KL-CTHADS ngày 31/3/2020 của Chi cục trưởng Cục thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên.

Bản án 23/2020/HS-PT ngày 14/02/2020 

– Cấp xét xử: Phúc thẩm

– Cơ quan xét xử:  Toà án nhân tỉnh Thái Nguyên

– Trích dẫn nội dung: “Nguyễn Thị H, Nguyễn Thu H1 và chị Nguyễn Thanh H2 là ba chị em ruột, trong quá trình sinh sống giữa H, H1 với chị H2 có phát sinh mâu thuẫn nên H đã làm đơn “Đơn đề nghị và kêu cứu” gửi Viện trưởng VKSNDTC và Giám đốc Công an tỉnh Thái N. Các đơn do H và H1 gửi có các nội dung như sau:Chị H2 thường xuyên chửi bà Dương Thị V (là mẹ đẻ của H3, H, H1 và chị H2), nhốt bà V trong nhà và không cho con, cháu, hàng xóm vào thăm và chăm sóc bà V;Chị H2 là người nghiện ma tuý rất nặng, nợ tiền nhiều người nhưng không có khả năng thanh toán;… Toàn bộ những đơn của Nguyễn Thị H; đơn do Nguyễn Thị H và Nguyễn Thu H1 ký đơn được cơ quan có thẩm quyền chuyển đến cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Thái N để giải quyết theo quy định của pháp luật. Ngày 03/01/2017 chị Nguyễn Thanh H2 có đơn tố cáo và đề nghị khởi tố đối với Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Minh H3, Nguyễn Thu H1 có hành vi Vu khống đối với chị. Theo kết quả xác minh của cơ quan điều tra các nội dung của chị H, H1 là bịa đặt vu khống chị H2.”

Đọc thêm: 

Tội vu khống (Điều 156 BLHS)

Phân biệt Tội làm nhục người khác và Tội vu khống theo Bộ luật Hình sự


Lưu ý: Các nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 0867.678.066 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác.

Khách hàng cần tư vấn chi tiết mời liên hệ:
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ DƯƠNG CÔNG
Văn phòng: Số 10 ngõ 40 Trần Vỹ, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, Hà Nội
Số điện thoại: 0867.678.066
Email: vanphongluatsuduongcong@gmail.com

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *