Tài sản nào của vợ chồng không phải chia khi ly hôn?

Khi ly hôn, vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng luôn là nội dung được quan tâm hàng đầu và cũng dễ phát sinh tranh chấp nhất. Trên thực tế, không ít người lầm tưởng rằng mọi tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân đều phải chia đôi khi ly hôn. Tuy nhiên, pháp luật hôn nhân và gia đình không quy định như vậy.

Theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (được sửa đổi, bổ sung đến năm 2025), bên cạnh tài sản chung, vợ chồng còn có những loại tài sản không phải chia khi ly hôn, bao gồm tài sản riêng, tài sản được thỏa thuận không chia và một số trường hợp đặc biệt khác. Việc xác định đúng đâu là tài sản không phải phân chia không chỉ giúp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mỗi bên mà còn là cơ sở quan trọng để giải quyết ly hôn nhanh chóng, hạn chế tranh chấp kéo dài.

Vậy tài sản nào của vợ chồng không phải chia khi ly hôn theo quy định pháp luật hiện hành? Căn cứ pháp luật xác định ra sao? 

1. Nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn
Theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), nguyên tắc phân chia tài sản khi ly hôn của vợ chồng được quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) như sau:
Ảnh mang tính chất minh họa
“Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này”. 
Như vậy, theo quy định trên thì chỉ tài sản chung mới đặt ra vấn đề chia tài sản còn tài sản riêng thì không phải chia.
2. Tài sản chung của vợ chồng được xác định như thế nào?
Căn cứ Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), tài sản chung 
của vợ chồng gồm những tài sản như sau: 
“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”.
Ví dụ: Anh A dùng tiền riêng mua đất nhưng không chứng minh được nguồn gốc tiền (tiền riêng trước hôn nhân), thì mảnh đất này cũng được coi là tài sản chung.
3. Tài sản riêng của vợ chồng được xác định như thế nào?
Tài sản riêng là tài sản gắn với cá nhân, không nhập vào khối tài sản chung. Người có tài sản riêng được quyền định đoạt, trừ khi đã nhập vào tài sản chung hoặc có thỏa thuận khác. Theo quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) tài sản riêng của vợ, chồng gồm:
“Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng
1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này”.
Ví dụ: Anh A được cha mẹ tặng riêng một mảnh đất trong thời kỳ hôn nhân, ghi rõ trong giấy tặng cho chỉ cho anh A, thì mảnh đất này là tài sản riêng của anh A.
Tuy nhiên, nếu trong quá trình sử dụng, tài sản riêng được vợ chồng thỏa thuận nhập chung thì khi ly hôn sẽ coi đó là tài sản chung.
4. Các loại tài sản không phải chia khi ly hôn
Khi vợ chồng ly hôn thì việc chia tài sản của vợ chồng sẽ được thực hiện theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình và các quy định của pháp luật khác hướng dẫn liên quan.
Theo đó, trường hợp áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn sẽ do các bên thỏa thuận với nhau; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án sẽ tiến hành giải quyết theo các quy định của pháp luật.
Còn trường hợp áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định của pháp luật liên quan để giải quyết.
Trong trường hợp giải quyết chia tài sản của vợ chồng theo các quy định của pháp luật thì việc chia tài sản chỉ áp dụng đối với tài sản chung của vợ chồng, còn tài sản riêng của vợ, chồng sẽ thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định.
Như vậy, tài sản thuộc một trong các trường hợp sau đây thì không phải chia khi vợ chồng ly hôn:
– Tài sản vợ chồng thỏa thuận không chia khi giải quyết ly hôn thì Tòa án không giải quyết chia.
– Tài sản riêng của vợ, chồng thì thuộc quyền sở hữu riêng của người đó, không phải chia.

Lưu ý: Các thông tin, nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 0867.678.066 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác.

Khách hàng cần tư vấn chi tiết mời liên hệ:
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ DƯƠNG CÔNG
Văn phòng: Số 10 ngõ 40 Trần Vỹ, phường Phú Diễn, TP Hà Nội
Số điện thoại: 0867.678.066
Email: vanphongluatsuduongcong@gmail.com
Facebook: Hỗ trợ pháp lý
Tikok: Lscchannel

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *