Lượt xem: 147
Trong quá trình làm việc, có không ít người lao động rơi vào tình trạng bị cho nghỉ việc đột ngột, không báo trước, không nêu rõ lý do hoặc chấm dứt hợp đồng với những lý do không đúng quy định pháp luật. Vì thiếu hiểu biết pháp lý hoặc lo ngại ảnh hưởng đến công việc sau này, nhiều người đành chấp nhận thiệt thòi mặc dù quyền lợi của mình bị xâm phạm nghiêm trọng.
Theo Bộ luật Lao động 2019 (sửa đổi, bổ sung 2025), người sử dụng lao động không được tùy tiện chấm dứt hợp đồng lao động. Khi bị chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, người lao động có đầy đủ quyền để yêu cầu bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình. Vậy trong trường hợp này, người lao động cần làm gì?
Xem thêm: Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Ảnh mang tính chất minh họa
1. Thế nào là chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật?
Chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng không thuộc các trường hợp luật cho phép theo quy định tại Điều 39 Bộ luật lao động 2019 (sửa đổi, bổ sung 2025).
“Điều 39. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các điều 35, 36 và 37 của Bộ luật này”.
Căn cứ theo quy định tại Điều 36 Bộ Luật Lao động 2019 (sửa đổi, bổ sung 2025) quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người sử dụng lao động như sau:
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 36 Bộ luật lao động 2019 ( sửa đổi, bổ sung 2025) người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:
a/ Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;
b/ Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.
Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động;
c/ Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc;
d/ Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật này;
đ) Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;
e/ Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên;
g/ Người lao động cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động”.
Tuy nhiên, cần lưu ý quy định tại Khoản 2 Điều khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, đ và g khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động như sau:
a/ Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
b/ Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;
c/ Ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng và đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;
d/ Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.”
Theo quy định tại Khoản 3 Điều này thì người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại điểm d và điểm e khoản 1 Điều này mà không phải báo trước cho người lao động.
Các trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 Bộ luật lao động (sửa đổi, bổ sung 2025)
“Điều 37. Trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
1. Người lao động ốm đau hoặc bị tai nạn, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 36 của Bộ luật này.
2. Người lao động đang nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng và trường hợp nghỉ khác được người sử dụng lao động đồng ý.
3. Người lao động nữ mang thai; người lao động đang nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi”
2. Thủ tục khởi kiện người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động trái luật.
Bước 1: Thương lượng, hoà giải với người sử dụng lao động
Theo quy định của Bộ luật lao động, trước khi khởi kiện thì hai bên phải tiến hành Hoà giải tại hoà giải viên lao động theo quy định tại Khoản 1 Điều 187 và Điều 188 Bộ luật này.
– Người lao động gửi đơn xin yêu cầu hoà giải đến người sử dụng lao động. Hoà giải viên sẽ tổ chức một buổi hoà giải giữa hai bên để đưa ra phương án giải quyết.
– Nếu hoà giải không thành công hoặc người sử dụng lao động từ chối hoà giải người lao động có quyền khởi kiện tại Toà án
Thời gian xử lý hoà giải: Trong vòng 05 ngày làm việc kể từ khi nhận đơn theo Khoản 2 Điều 188 Bộ luật này.
Bước 2: Nộp hồ sơ khởi kiện
Người khởi kiện gửi đơn khởi kiện kèm theo tài liệu, chứng cứ mà mình hiện có đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức sau đây:
– Nộp trực tiếp tại Tòa án;
– Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính;
– Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
Bước 3: Giai đoạn tiếp nhận và xử lý hồ sơ
Sau khi tiếp nhận hồ sơ khởi kiện, tòa án sẽ kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ trong thời hạn 08 ngày. Cụ thể theo quy định của khoản 2 và khoản 3 Điều 191 BLTTDS 2015 (sửa dổi, bổ sung 2025) có quy định như sau:
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:
Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;
– Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này;
– Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;
– Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Bước 4: Thụ lý đơn khởi kiện
Theo quy định tại Điều 195 BLTTDS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.
Thẩm phán dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào giấy báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.
Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.
Trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo.
Bước 5: Giai đoạn chuẩn bị xét xử
Giai đoạn chuẩn bị xét xử diễn ra trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án, trường hợp vụ án có tình tiết phức tạp thì có thể gia hạn thêm 02 tháng. Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án sẽ tiến hành các hoạt động chuẩn bị xét xử như: triệu tập các bên tham gia tố tụng, thu thập tài liệu chứng cứ, tiến hành hòa giải, giao nộp tiếp cận và công khai chứng cứ trước khi đưa vụ án ra xét xử. Chi tiết thẩm phán thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 203 BLTTDS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025)
Bước 6: Mở phiên tòa sơ thẩm
Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng
Tại phiên tòa, các bên sẽ trình bày quan điểm, xuất trình chứng cứ và tranh luận về vụ án. Sau khi xem xét toàn bộ vụ án, tòa án sẽ ra bản án quyết định quyền và nghĩa vụ của các bên. Bản án có hiệu lực pháp lý sau khi hết thời hạn kháng cáo hoặc kháng nghị.
Chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là hành vi xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, đồng thời đi ngược lại các nguyên tắc bảo vệ người lao động mà Bộ luật Lao động 2019 (sửa đổi, bổ sung 2025) đã thiết lập. Pháp luật lao động Việt Nam không cho phép người sử dụng lao động tùy tiện cho người lao động nghỉ việc mà chỉ được đơn phương chấm dứt hợp đồng trong những trường hợp luật định, đúng căn cứ, đúng trình tự và bảo đảm nghĩa vụ báo trước theo quy định.
Khi bị chấm dứt hợp đồng lao động trái luật, người lao động không chỉ có quyền khiếu nại, yêu cầu hòa giải mà còn có quyền khởi kiện ra Tòa án để bảo vệ quyền lợi của mình. Việc thực hiện đầy đủ các bước từ thương lượng, hòa giải đến khởi kiện giúp người lao động có cơ sở pháp lý vững chắc để yêu cầu người sử dụng lao động bồi thường thiệt hại, nhận lại việc làm, tiền lương, bảo hiểm và các quyền lợi hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
Do đó, người lao động cần chủ động trang bị kiến thức pháp luật cơ bản, không nên cam chịu khi quyền lợi bị xâm phạm. Việc hiểu đúng và sử dụng đúng các cơ chế pháp lý mà pháp luật quy định không chỉ giúp người lao động tự bảo vệ mình mà còn góp phần xây dựng quan hệ lao động công bằng, ổn định và tiến bộ trong xã hội.
Lưu ý: Các nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 0867.678.066 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác.