Lòng tin là nền tảng của mọi giao dịch dân sự và kinh tế. Thế nhưng, khi lòng tin bị trục lợi để phục vụ cho mục đích bất chính, nó sẽ biến tướng thành hành vi vi phạm pháp luật hình sự. Tội ‘Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản’ là một minh chứng điển hình cho việc cố tình chuyển hóa các giao dịch hợp pháp ban đầu thành hành vi chiếm đoạt. Vậy cấu thành tội phạm của tội danh này được pháp luật quy định như thế nào, Bài viết dưới đây, VPLS Dương Công sẽ phân tích toàn diện tội ‘Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản’ dưới góc nhìn pháp lý.
Xem thêm: Mẫu đơn trình báo về tội phạm
Danh sách các công ty liên quan vụ lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ
Lừa đạo chiếm đoạt tài sản qua không gian mạng

1. Khái niệm
Tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản là hành vi của người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn nhưng cố tình không trả tài sản này hoặc đã sử dụng tài sản đi vay, mượn, thuê vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản này.
2. Dấu hiệu pháp lý
– Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong xã hội.
– Mặt khách quan của tội phạm
Hành vi khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản gồm hai nhóm hành vi:
+ Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả. Đây là nhóm hành vi mà người phạm tội sau khi có được tài sản thông qua các hình thức vay, mượn, thuê hoặc qua hợp đồng đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt hoặc đến thời hạn trả nhưng cố tình không trả lại tài sản mặc dù có đủ điều kiện để trả. Trong nhóm hành vi này thì hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản tương tự như hành vi trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Điểm khác nhau duy nhất là mục đích chiếm đoạt trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có trước khi người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội, còn trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, mục đích chiếm đoạt chỉ xuất hiện sau khi người phạm tội đã có tài sản một cách hợp pháp thông qua vay, mượn, thuê hoặc qua hợp đồng.
+ Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Những trường hợp người phạm tội sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp, như sử dụng tài sản để đánh bạc, để buôn lậu, buôn bán hàng giả, hàng cấm…
Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chỉ cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản khi tài sản bị chiếm đoạt có trị giá từ 4.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm.
+ Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
+ Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
Hậu quả của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là nạn nhân bị người khác chiếm đoạt tài sản. Giữa hành vi và hậu quả phải có mối quan hệ nhân quả.
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất nên tội phạm hoàn thành khi người phạm tội chiếm đoạt được tài sản.
– Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là những người có năng lực TNHS và đạt độ tuổi theo quy định tại Điều 12 BLHS. Pháp nhân thương mại không phải là chủ thể của tội phạm này. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này.
– Mặt chủ quan của tội phạm
Lỗi của người phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là lỗi cố ý trực tiếp. Mục đích của người phạm tội là chiếm đoạt tài sản của người khác.
Lưu ý: Các thông tin, nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 0867.678.066 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác.
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ DƯƠNG CÔNG
Văn phòng: Số 10 ngõ 40 Trần Vỹ, phường Phú Diễn, TP Hà Nội
Số điện thoại: 0867.678.066
Email: vanphongluatsuduongcong@gmail.com
Facebook: Hỗ trợ pháp lý
Tikok: Lscchannel
